Việt
Nam là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương. Lãnh thổ toàn vẹn của Việt
Nam bao gồm diện tích đất liền – theo số liệu thống kê năm 2006 là
331.211 km2. Hiện nay, các vấn đề về môi trường không khí ở
Việt Nam đang được quan tâm rất nhiều từ các thành phố lớn đến các vùng
nông thôn thành thị. Không khí trong khí quyển mà chúng ta đang hít thở
là không khí ẩm, bao gồm hỗn hợp các chất ở dạng khí có thể tích gần như
không đổi và có chứa một lượng hơi nước nhất định tùy thuộc vào nhiệt
độ và áp suất khí quyển. Ở điều kiện bình thường, không khí (chưa bị ô
nhiễm) gồm các thành phần cơ bản: 78% Nitơ, 21% Ôxy, 1% Argon, và một số
khí khác như CO2, Neon, Helium. Xenon, Hidro, Ozôn, hơi
nước,.. Ô nhiễm môi trường không khí là khi trong không khí có chất lạ,
hoặc có sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí theo chiều
hướng không tiện nghi, bất lợi đối với sinh vật và con người.
Có
hai nguồn gây ô nhiễm không khí chính đó là nguồn tự nhiên và nguồn
nhân tạo. Nguồn tự nhiên do các hiện tượng thiên nhiên như núi lửa, động
đất, cháy rừng, quá trình phân hủy xác động thực vật. Nguồn nhân tạo
chủ yếu do các hoạt động sản xuất công nghiệp, các hoạt động giao thông
vận tải, xây dựng, từ các hoạt động sinh hoạt của con người. Hiện nay,
nguồn nhân tạo là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí
và chúng ta có thể chủ động khắc phục nguồn thải này.
Vào
những năm 50, 60 của thế kỷ XX, ô nhiễm không khí chỉ là hiện tượng địa
phương, diễn ra chủ yếu ở nơi có nguồn ô nhiễm như các thành phố và
KCN. Cho đến năm 70, 80, người ta nhận thấy, ô nhiễm không khí có thể
tác động rất xa, từ khu vực này đến khu vực khác, từ nhà máy đến khu dân
cư, từ thành thị đến nông thôn, từ quốc gia này sang quốc gia khác,
thậm chí từ châu lục này tới châu lục khác và công ước Giơnevơ (1979) đã
khẳng định được điều này.

Các chất đặc trưng gây ô nhiễm môi trường không khí và ảnh hưởng tới sức khoẻ con người
Sulfur Điôxít (SO2): là chất khí hình thành do ôxy hóa lưu huỳnh (S) khi đốt cháy các nhiên liệu như than, dầu, sản phẩm của dầu, quặng sunfua,… SO2 là chất khí gây kích thích đường hô hấp mạnh, khi hít thở phải khí SO2 thậm chí ở nồng độ thấp có thể gây co thắt các cơ thẳng của phế quản. Nồng độ SO2 lớn có thể gây tăng tiết nhầy ở niêm mạc đường hô hấp trên và ở các nhánh khí phế quản. SO2
ảnh hưởng tới chức năng của phổi, gây viêm phổi, viêm phế quản mãn
tính, gây bẹnh tim mạch, tăng mẫn cảm ở những người mắc bệnh hen,..
Cacbon mônôxít (CO):
được hình thành do sự đốt cháy không hoàn toàn các chất hữu cơ như
than, xăng, dầu, gỗ và một số chất hữu cơ khác. Khi hít phải, CO sẽ lan
tỏa nhanh chóng qua phế nang, mao mạch, nhau thai,.. Đến 90% CO hấp thụ
sẽ kết hợp với Cácbonxy-Hemoglobin, làm kiềm chế khả năng hấp thụ oxy
của hồng cầu. Các tế bào máu này sẽ bị vô hiệu hóa, không mang được oxy
tới các mô của cơ thể gây hiện tượng ngạt. Nhiễm CO sẽ ảnh hưởng đến
nhiều hệ thống như hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, đặc biệt là các
cơ quan, tổ chức tiêu thụ lượng oxy cao như não, tim, và ảnh hưởng đến
sự phát triển của thai nhi,.. Gây đau đầu, chóng mặt, suy nhược cơ thể,
ăn không ngon, khó thở, rối loạn cảm giác,..
Nitrogen Điôxít (NO2): là chất khí màu nâu, được tạo ra bởi sự ôxy hóa Nitơ ở nhiệt độ cao. NO2
là một chất khí nguy hiểm, tác động mạnh đến cơ quan hô hấp đặc biệt ở
các nhóm mẫn cảm như trẻ em, người già, người mắc bệnh hen. Tiếp xúc với
NO2 sẽ làm tổn thương niêm mạc phổi, tăng nguy cơ nhiễm trùng, mắc các bệnh hô hấp, tổn thương chức năng phổi, mắt, mũi, họng,..
Bụi: dựa
vào kích thước hạt bụi, người ta chia bụi thành bụi toàn phần (TSP) có
đường kính khí động học dưới 50 µm và bụi PM10 có đường kính khí động
học dưới 10 µm là loại bụi nhỏ có thể dễ dàng xuyên qua khẩu trang, thâm
nhập vào đường hô hấp của con người. Hầu hết các hạt bụi có đường kính
từ 5-10 µm xâm nhập và lắng đọng ở đường hô hấp giữa. Bụi hô hấp là
những hạt bụi có đường kính khí động học dưới 5 µm, có thể xâm nhập sâu
đến tận các phế nang của phổi là vùng trao đổi của hệ hô hấp. Ảnh hưởng
của bụi vào sức khỏe phụ thuộc vào tính chất, nồng độ và kích thước hạt.
Bụi có thể gây các bệnh đường hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, mắt, da, ung
thư,..
Ozôn (O3): là một chất độc có khả năng ăn mòn và là một chất gây ô nhiễm, có mùi hăng mạnh. O3 sinh ra từ phản ứng quang hóa giữa NOx và các hợp chất hữu cơ bay hơi dưới tác động của ánh sáng mặt hoặc tạo thành từ O2 do phóng tĩnh điện, tia cực tím (một số thiết bị điện có thể sản sinh ra O3, có thể dễ dàng ngửi thấy như trong tivi, máy photocopy,..). Thông thường, O3 được sử dụng để tiêu diệt vi khuẩn, khử trùng,.. tuy nhiên, ở nồng độ lớn, O3
trở nên độc cho các sinh vật sống, gây tổn thương các mô và tế bào cơ
thể. Có thể làm giảm chức năng phổi, gây tức ngực, ho, khó thở,..
Các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs):
gồm nhiều hóa chất hữu cơ trong đó quan trọng nhất là benzen, toluene,
xylene,.. VOCs có thể gây nhiễm độc cấp tính nếu tiếp xúc ở liều cao,
gây viêm đường hô hấp cấp, rối loạn tiêu hóa, rối loạn thần kinh, rối
loạn huyết học, gây tổn thương gan – thận, gây kích thích da. VOCs cũng
có thể là tác nhân gây suy tủy và ung thư máu.
Chì (Pb):
khói xả từ động cơ của các phương tiện tham gia giao thông có chứa một
hàm lượng chì nhất định. Ngoài ra, chì có thể sinh ra từ các mỏ quặng,
từ nhà máy sản xuất pin, chất dẻo tổng hợp, sơn, hóa chất,.. Chì xâm
nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, thức ăn, nước uống, qua da, qua sữa
mẹ,.. Chì sẽ tích đọng trong xương và hồng cầu gây rối loặn tủy xương,
đau khớp, viêm thận, cao huyết áp, tai biến não, gây nhiễm độc hệ thần
kinh trung ương và ngoại biên, phá vỡ hồng cầu gây thiếu máu, làm rối
loạn chức năng thận. Phụ nữ có thai và trẻ em rất dễ bị tác động của chì
(gây sẩy thai hoặc tử vong ở trẻ sơ sinh, làm giảm chỉ số thông minh).
Tiếng ồn:
sinh ra từ hoạt động của máy móc, động cơ xe, tiếng còi xe, loa phát
thanh,.. Thông số tếng ồn có tiêu chuẩn khác nhau theo khu vực và thời
gian cụ thể. Khi thông số tiếng ồn vượt quá TCCP sẽ gây mệt mỏi thính
giác, giảm thính lực, gây ù tai, điếc nghề nghiệp, làm nhiễu loạn chức
năng não, tăng nhip thở, giảm thị lực và khả năng phân biệt màu sắc, gây
viên dạ dày, rối loạn tuần hoàn, rối loạn thần kinh thực vật.
Khí Radon:
sinh ra do phân rã hạt nhân Urani trong tự nhiên, là loại khí nặng nên
thường tồn tại trong lớp không khí sát mặt đất. Trong tự nhiên, radon có
trong đất đá, xỉ than, bãi thải vật liệu xây dựng, trong bùn. Radon có
thể bám qua các hạt bụi nhỏ, xâm nhập vào cơ thể thông qua đường hô hấp
hoặc thấm qua da, qua các vết thương. Nhiễm độc khí radon có thể gây ung
thư phổi, gây bệnh máu trắng,..
Ngoài
các chất đặc trưng gây ô nhiễm không khí và ảnh hưởng tới sức khoẻ của
cộng đồng trên các chuyên gia sinh vật học vừa khám phá ra oxit nitric –
chất gây ô nhiễm không khí – có tác dụng như 1 hormone thực vật kiềm
hãm sự nở hoa ở thực vật. Trong khi mỗi cây xanh đều có thể tự sản xuất
oxit nitric, thì hiện nay, chúng còn chịu thêm tác động bởi sự tập trung
của lượng hóa chất này trong môi trường ô nhiễm.
Theo
các chuyên gia sinh vật học thì mặc dù phát hiện này chỉ mang tính cơ
bản trong tự nhiên, nhưng lượng lớn oxit nitric hiện nay tập trung thành
chất gây ô nhiễm môi trường có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến 1 quá
trình quan trọng của thực vật – sự nở hoa. Sự trì hoãn quá trình này có
thể gây ảnh hưởng lên cả hệ sinh thái, bao gồm cả thực vật lẫn động
vật. Những nghiên cứu về gen trên các cây thí nghiệm cho thấy oxit
nitric tác động lên cả gen điều khiển phản ứng với môi trường lẫn gen tự
điều hòa có liên quan đến sự nở hoa của thực vật. Vì vậy, oxit nitric
có thể là 1 tác nhân điều hòa tác động của môi trường với các hormone
của thực vật lên quá trình nở hoa.
Vậy
chúng ta cần phải làm gì để đảm bảo được bầu khí quyển mà chúng ta đang
sống được trong lành điều đó còn phụ thuộc ở mỗi người dân chúng ta và
đó chính là ý thức của con người đối với môi trường.
Tác giả: Nguyễn Thị Lâm